Thiết kế nhà hàng theo phong cách châu á

Vật liệu trang trí nội thất nhà hàng

D = wch – w, v
trong đó : w 1 – độ ẩm ngân cách giữa trạng thái dẻo và trạng thái chảy nhãọ, % ; WV – độ ẩm gioi hạn giữa trạng thái giòn và trạng thái dẻo, % (hỉnh 4-1).
Muốn tăng độ dẻo của đất sét làm gốm trang trí nội thất nhà hàng có thể cho thêm đất sét dẻo cao (đất môntmôrilônit), tăng cường gia công cơ học (đập, nghiền, trộn, ngâm ủ, lọc) hoặc có thể dùng phụ gia tăng dẻo (nước có chứa mật đường, thải phẩm công nghiệp giấy). Ngược lại, muốn giảm độ dẻo có thể cho thêm các chất trơ như bột đá, cát, samốt, mùn cưa, bột than, v.v…  Độ co là độ giảm kích thước và thể tích của đất sét khi pỵ khô (co không khí) và khi nung (co lửa). Độ co được tính lifnií % so với kích thước ban đầu.
Độ co khi sáy là sự giảm kích thước của đất sét do sự mát trong các ống mao quản, làm giảm áp lực mao dẫn khiến Các phần tử đất xích lại gần nhau. Kết quả đất sét bị co. Tùy thuộc vào từng loại đất sét, độ co khi sấy dao động trong khoảng HI 2-3% đến 10-12%. Mức độ co khi sấy phụ thuộc vào thành Ịệhrtn của đất sét : khoáng dẻo co nhiều hơn các tạp chất, co nhiều hơn caolinit. Ngoài ra, nđ còn phụ thuộc vào thành phần hạt và độ ẩm của đất. Để giảm co Mấy thông thường người ta trộn thêm phụ gia gầy.
Độ co khi nung chủ yếu là do các thành phẩn dễ chảy của Nó chảy ra, các hạt đất sét tại chỗ đó có xu hướng xích lại nhau. Độ co khi nung thường là 2-3% tùy thuộc vào đất. độ CO tổng cộng của đất sét là tổng độ co khi sấy và khi nung, Thường dao động trong khoảng từ 5 đến 18%. Vì vậy cẩn kích thước khuôn để nhận được sản phẩm gốm thước yêu cầu. Hiện tượng co thường đi liễn với hiện tượng cong, vênh.
Sự biến đổi hóa lí khi nung đất sét là một hệ đa khoáng, khi gia công nhiệt xảy ra quá trình hóa lí phức tạp, những khoáng mới được. Từ nhiệt độ thường đến 130°c nước tự do trong đất sét lũy, đất sét bị co.
Từ nhiệt độ 200 đến 450°c, nước hấp phụ bay hơi, chất cháy, đất sét bị co đáng kể và có thể gây ảnh hưởng lượng sản phẩm ; Fe203 chuyển thành FeO tạo ra trường khử.
Ở nhiệt độ từ 500 đến 550°c nước hóa hợp mất, caolinit chuyển thành mêtacaolinit (Al203.2Si02) :
Al203.2Si02.2H20 -> A1.03.2Si02 + 2H-A đất sét mất tính dẻo.
Khi nhiệt độ từ 550 đến 880°c mêtacaolinit phân hủy thành yAl70„ và SiO-,. Mạng lưới tinh thể của khoáng sét hoàn toàn bị phá hủy, cường độ sản phẩm giảm.
Trong khoảng nhiệt độ 920 – 980°c, yAl-,03 biến thành (AI,0,, khoáng silimanit được tạo thành (tỏa nhiệt) :
aAl203 + SiO-, —> Al-,03.Si0n , khoáng cacbonat bị phân hủy :
CaC03 —* CaO + CO-,
Trong khoảng nhiệt độ 1000 -r- 1200° chủ yếu là sự tạo khoáng silimanit và khoáng mulit bắt đẩu được hỉnh thành :
Al203Si02 – 3Alo03.2Si02
Quá trình kết khối xảy ra, thể tích bị co, khối lượng thể tích của sản phẩm tăng do xuất hiện pha lỏng. Nhiệt độ càng tăng sự chuyển hóa silimanit thành mulit càng mạnh và chuyển hoàn toàn thành mulit ở nhiệt độ 1370° -ỉ- 1420°c. Khoáng mulit làm cho sản phẩm có cường độ cao và bền nhiệt.